Chuyển đến nội dung chính

Chính sách quyền riêng tư,

Trồng khoai tây vụ đông mang hiệu quả kinh tế cao

 Trồng khoai tây vụ đông mang hiệu quả kinh tế cao


1. Thời vụ trồng khoai tây vụ đông

- Thời gian trồng khoai tây vụ đông trước ngày 15/11. Thời vụ tốt nhất từ 15/10 – 5/11.

2. Một số giống khoai tây vụ đông năng suất vượt trội

- Giống khoai tây KT1: Thời gian sinh trưởng trung bình 85 – 90 ngày, chất lượng cao, dạng củ oval, vỏ củ và ruột củ màu vàng, hàm lượng chất khô cao 21 – 23%, hàm lượng tinh bột 14 – 17%, hàm lượng khử < 0,1 gram, phù hợp cho ăn tươi và chế biến công nghiệp, tiềm năng năng suất cao (25 – 30 tấn/ha) và ổn định. Giống chống chịu tốt bệnh virus, bệnh mốc sương và chống chịu khá với bệnh héo xanh.

- Giống khoai tây KT5: Thời gian sinh trưởng khoảng 85 – 90 ngày, dạng củ hình oval, mắt nông, vỏ củ màu vàng sáng bóng đẹp, ruột củ vàng, số lượng củ/cây trung bình từ 6 – 8 củ, năng suất đạt cao từ 23 – 25 tấn/ha, ổn định, tăng so với giống Solara từ 12 – 15%, tỷ lệ củ thương phẩm đạt > 50%, tỷ lệ hao hụt sau bảo quản thấp. Giống có chất lượng tốt, chất lượng thử nếm sau luộc đạt điểm 2 (ngon), độ bở sau luộc điểm 1 (bở). Hàm lượng chất khô đạt từ 18,3 – 19,5 %, hàm lượng tinh bột đạt từ 16,6 – 16,9%, hàm lượng đường khử từ 0,51 – 0,59%, thích hợp cho ăn tươi. Giống nhiễm nhẹ một số sâu bệnh hại chính, chịu hạn và chịu nóng khá.

- Giống khoai tây KT6: Được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Solara x dùng 47 năm 2012 mang gen kháng bệnh mốc sương R1 (đã được sang lọc bằng chỉ thị phân tử liên kết với gen kháng bệnh mốc sương BA213c14t7 hay LP2). Thời gian sinh trưởng ngắn 75 – 80 ngày, dạng cây đứng, lá màu xanh nhạt, dạng củ hình oval, mắt nông, vỏ củ màu vàng, ruột củ màu vàng đậm. Hàm lượng chất khô đạt 19 – 20%, hàm lượng đường khử đạt 0,5% và hàm lượng tinh bột đạt 16 – 17% phù hợp cho nhu cầu ăn tươi, nhiễm nhẹ một số sâu bệnh hại chính, nhiễm mốc sương ở mức nhẹ (điểm 3). Số củ/khóm từ 6 – 8 củ, năng suất đạt từ 21 – 25 tấn/ha.

3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc khoai tây vụ đông

* Kỹ thuật làm đất

- Đất được cày bừa kỹ, lên luống cao, sạch cỏ dại.

- Lên luống cao 20 – 25 cm, luống đôi rộng 1,2 m hoặc luống đơn rộng 80 – 90 cm.

* Chuẩn bị giống

- Lượng giống 50.000 củ/ha, tương đương 2.500 củ/500 m2, khoảng 60 – 70 kg/500 m2.

* Kỹ thuật trồng

- Mật độ trồng 5 khóm/m2; khoảng cách trồng từ 30 x 40 cm. Khi trồng tuyệt đối không cho củ tiếp xúc với phân hóa học.

* Kỹ thuật bón phân cho cây khoai tây vụ đông

- Lượng phân bón: 10 – 15 tấn/ha phân chuồng hoai mục + 150 kg đạm ure + 150 kg super lân + 150 kg kaliclorua.

- Bón lót trước khi trồng: Bón toàn bộ phân chuồng hoai mục + 100% phân lân + 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali.

- Bón thúc: Khi cây đạt chiều cao từ 20 – 25 cm: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali, kết hợp xới xáo, làm cỏ và vun lên luống. Vun lần 2 sau lần 1 khoảng 10 – 15 ngày.

* Chú ý: Không dùng phân ga, vịt tươi trộn với trấu không hoai mục bón cho cây khoai tây vì sẽ làm củ khoai bị ghẻ. Trước khi thu hoạch 15 – 20 ngày không tưới nước.

* Chăm sóc khoai tây vụ đông

- Xới xáo, làm cỏ 2 lần kết hợp với bón phân và vun luống.

- Đất phải được giữ ẩm thường xuyên, khi khô hạn có thể tưới tràn 1/3 – 1/2 rãnh luống nhưng không giữ nước ngập liên tục ở rãnh.

* Một số sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

- Phòng trừ sâu hại như rệp, nhện và bọ trí: Vệ sinh đồng ruộng, hạn chế trồng cây ký chủ phụ cùng họ (đậu, bí đỏ, rau cải, …) xung quanh ruộng; Sử dụng bẫy vàng để thu bắt, cắt bỏ lá bị bệnh. Phun thuốc khi phát hiện có sâu, rệp, nhện, bọ trĩ. Nên phun luân phiên thay đổi các loại thuốc. Sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật đặc hiệu theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

- Phòng trừ mốc sương và đốm lá

+ Sử dụng củ giống sạch bệnh, trồng xa khu vực có khoai tây hoặc ký chủ khác đã nhiễm bệnh.

+ Chú ý giữ vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ cây ký chủ phụ và các tàn dư ký chủ của vụ trước; không đổ củ thối, nhiễm bệnh trong hoặc xung quanh ruộng trồng khoai tây.

+ Phun phòng trừ bệnh: Thực hiện phun phòng trừ bệnh mốc sương trước khi cây khoai tây khép tán (dùng thuốc có tác dụng tiếp xúc như: Mancozeb, Zineb, Daconil, …). Chú ý quan sát thời tiết, khi có mưa hoặc sương mù nhiều liên tục 2 – 3 ngày liền trong điều kiện nhiệt độ không khí dưới 26oC cần phun thuốc phòng bệnh.

+ Khi bắt đầu xuất hiện những triệu chứng bệnh đầu tiên, cần phun ngay thuốc nội hấp, lưu dẫn như: Cruzate M8-72WP, Aliete 80WG, Acrobat hoặc Melody Duo, … theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Sau đó nên thay đổi luân phiên các loại thuốc.

- Phòng trừ héo rũ do vi khuẩn: Luân canh với cây lúa nước: Đối với ruộng đã nhiễm khuẩn, không trồng lại khoai tây trên cùng ruộng sau ít nhất từ 2 – 3 năm, luân canh với cà rốt hoặc hành tây 2 – 3 vụ. Dùng củ giống sạch bệnh.

4. Thu hoạch và bảo quản khoai tây vụ đông

- Khi 50% lá chuyển vàng là có thể thu hoạch.

- Trong trường hợp chưa thể tiêu thụ ngay, cần bảo quản khoai tây trong điều kiện thoáng mát và tối để tránh lục hóa, thối củ. Nếu bảo quản lâu, tốt nhất là bảo quản khoai tây thương phẩm trong kho lạnh ở nhiệt độ 12 – 14oC, ẩm độ không khí 90%. Bảo quản khoai tây giống trong kho lạnh ở nhiệt độ 40oC.

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Hướng dẫn trồng và chăm sóc mướp hương (Luffa Plant)

  Sơ lược về cây mướp Mướp hương (  Luffa aegyptiaca)  là một loại bầu lớn, thời gian phát triển lâu hơn nhiều so với các  loại bầu  khác  , khoảng 90 đến 120 ngày.  Và một khi quả đã đạt đến kích thước trưởng thành, bạn cần tính toán trong vài tuần để nó phát triển các sợi bên trong dai và khô trên cây nho trước khi bạn có thể thu hoạch.  Đó là tổng số 150 đến 200 ngày ấm áp, không có sương giá. Điều bạn có thể chưa biết về mướp là khi còn non và mềm, mướp là loại rau ăn được trong họ dưa leo, có thể ăn sống hoặc nấu chín.  Tuy nhiên, trái cây phát triển quá nhanh, khoảng một inch rưỡi mỗi ngày, nên rất khó để thu hoạch đúng thời gian, vì vậy tốt nhất bạn nên trồng mướp để lấy bọt biển và để chúng phát triển dài khoảng hai feet. Bởi vì dây leo bằng lăng có thể đạt chiều dài lên đến 30 feet(9m), nên trồng chúng trên giàn là tốt nhất, và không chỉ vì lý do không gian.  Mướp được trồng trên mặt đất có xu hướng cong lên, và giữ cho dây leo và quả trên mặt đất và khô sẽ giảm nguy cơ bị bện

Các dạng sản phẩm sử dụng cây Sâm Ngọc Linh trong y học cổ truyền.

  Cây Sâm Ngọc Linh là loài thực vật quý hiếm và được sử dụng trong y học cổ truyền từ lâu đời. Cây Sâm Ngọc Linh chứa các thành phần hóa học quý giá như saponin, polypeptide, flavonoid, polyphenol và một số dưỡng chất khác có tác dụng tốt đối với sức khỏe con người. Dưới đây là một số dạng sản phẩm sử dụng cây Sâm Ngọc Linh trong y học cổ truyền: Sâm Ngọc Linh tươi: Lá và rễ Sâm Ngọc Linh có thể được sử dụng tươi để chế biến thành thức uống hoặc thực phẩm chức năng để bổ sung các dưỡng chất quý giá cho cơ thể. Sâm Ngọc Linh khô: Rễ và thân của cây Sâm Ngọc Linh được phơi khô và chế biến thành các sản phẩm bột, viên nang hoặc viên uống để sử dụng trong y học cổ truyền. Sâm Ngọc Linh nước: Sâm Ngọc Linh được đun sôi trong nước và uống hàng ngày để bổ sung dưỡng chất và tăng cường sức khỏe. Sâm Ngọc Linh mật ong: Sâm Ngọc Linh được trộn với mật ong để tạo thành sản phẩm có tác dụng bổ sung năng lượng, tăng cường sức đề kháng và giúp giảm stress. Sâm Ngọc Linh viên đặt: Viên đặt được chế

Cách trồng và chăm sóc bèo cái (Water Lettuce)

  Trồng và chăm sóc bèo cái Như tên gọi của nó, bèo cái là một loại thực vật  nổi trong  ao  với những chiếc lá hình hoa thị  giống như đầu của cây rau diếp.  Mỗi lá đều có gân sâu và các gân song song, mép hình vỏ sò, không có thân đáng kể.  Mặc dù không sặc sỡ, nhưng cây  bèo cái  lại tạo ra những bông hoa nhỏ màu trắng hoặc xanh nhạt ẩn trong những tán lá.  Nó nở hoa từ cuối mùa hè đến cuối mùa thu. Bèo cái  có thể được sử dụng trong vườn nước, ao hồ, hoặc các thùng chứa cả  trong nhà  và ngoài trời.  Tán lá của loài cây này chỉ cao khoảng 6 inch 12cm, nhưng hệ thống rễ dày đặc của nó dưới nước có thể sâu tới 20 inch 40cm.  Nó là một loài sinh trưởng rất nhanh sau khi trưởng thành và được coi là một loài thực vật xâm lấn  ở một số khu vực nhất định.  Chăm sóc  Bèo cái   Để thêm  Bèo cái    vào ao hoặc vườn nước, chỉ cần rải loại cây nổi này trên mặt nước vào mùa xuân.  Tốt nhất, hãy chọn chỗ không có dòng chảy, vì những cây này không phát triển tốt khi bị đẩy qua mặt nước.  Nếu có d