Chuyển đến nội dung chính

Câu chuyện về vải thiều

  Câu chuyện về vải thiều bắt đầu từ lịch sử phát triển của ngành trồng cây này và những câu chuyện thú vị liên quan đến nó. Dưới đây là một tóm tắt về câu chuyện và lịch sử của vải thiều: Xuất xứ và lịch sử: Vải thiều là loại cây ăn quả có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng từ hàng ngàn năm trước đây. Theo truyền thuyết, vải thiều đã được tìm thấy và trồng lần đầu tiên tại vùng Thiều Châu, Trung Quốc. Từ đó, nó đã lan rộng sang các khu vực khác trên thế giới, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác. Quan trọng với khu vực Vải Thiều Bắc Giang: Tỉnh Bắc Giang ở Việt Nam đã trở thành nơi nổi tiếng với trồng vải thiều. Vải thiều Bắc Giang đã được công nhận là một trong những thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam và có xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Câu chuyện về sự quan trọng của vải thiều trong văn hóa địa phương: Vải thiều không chỉ là một loại cây trồng phổ biến, mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa và kinh tế đặc trưng của một số khu vực. Ví dụ, ở Bắ

Tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa - Lúa sạ theo khóm

 Tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa - Lúa sạ theo khóm

Nông nghiệp sản xuất lúa ngày một phát triển. Các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác lúa càng ưu việt vượt trội hơn các kỹ thuật thông thường. Tuy nhiên việc áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và thay đổi lối canh tác truyền thống của nông dân thì không phải tiến bộ kỹ thuật nào cũng được nhà nông hưởng ứng. Một trong những kỹ thuật đang được các nhà nông sản xuất lúa ở vùng Đông bằng sông Cửu Long đặc biệt quan tâm đó là kỹ thuật sạ lúa theo khóm.

Phương pháp sạ lúa theo khóm là phương pháp làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa lên tới 35% so với sản xuất thông thường. Đồng thời giảm công lao động đáng kể. Tăng tính sản xuất công nghiệp trong sản xuất lúa gạo ở nước ta.

Để áp dụng kỹ thuật sạ lúa theo khóm một cách hiệu quả, cẩm nang cây trồng xin chia sẻ bài viết kỹ thuật sạ lúa theo khóm cụ thể như sau:

1. Tính ưu việt của kỹ thuật sạ lúa theo khóm

- Giảm 50% lượng giống lúa so với kỹ thuật sạ lúa thông thường.

- Giảm 25-30% lượng phân bón so với lượng phân bón đang áp dụng đại trà cùng thời điểm.

- Lúa sạ khóm có khả năng sinh trưởng phát triển. Tỷ lệ đổ ngã thấp. Hiệu suất quang hợp cao, tận dụng tối đa hiệu ứng ánh sáng hàng biên giúp cây lúa to, chắc, khỏe. Tăng khả năng đẻ nhánh sớm, đẻ nhánh hữu hiệu làm gia tăng năng suất cây trồng.

- Tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại cây trồng. Việc áp dụng kỹ thuật sạ khóm làm giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vât 2 lần so với canh tác lúa thông thường.

- Làm tăng năng suất cây lúa lên gần với năng suất lý tưởng của giống lúa. Năng suất lúa khi áp dụng sạ khóm đúng kỹ thuật tăng so với canh tác lúa thông thường từ 30-35%.

- Giảm 40% công lao động so với phương pháp sạ lan, sạ theo hàng, …

- Hiệu quả kinh tế từ việc áp dụng phương pháp sạ khóm lên đến 35% so với canh tác lúa cùng thời điểm.

- Áp dụng phương pháp sạ khóm còn là phương pháp hữu hiệu trong việc cơ giới hóa nông nghiệp. Tăng tính cạnh tranh về giá lúa trên thị trường lúa gạo hiện nay.

2. Kỹ thuật sạ lúa theo khóm

- Kỹ thuật sạ lúa theo khóm là kỹ thuật sử dụng máy gieo sạ theo khóm. Vì vậy để việc áp dụng hiệu quả cần diện tích sạ lúa lớn, tối thiểu từ 5 ha trở lên. Đất lúa áp dụng sạ khóm cần yêu cầu cày bừa kỹ, thu dọn tàn dư thực vật sạch. Làm đất trước khi tiến hành sạ từ 5 – 7 ngày vừa đủ thời gian đông bùn.

- Lượng giống khi áp dụng kỹ thuật sạ lúa theo khóm đối với các giống lúa dưới 95 ngày từ 50-60 kg/ha. Đối với các giống lúa dài ngày khác lượng giống sử dụng từ 55-65 kg/ha.

- Để đảm bảo mật độ gieo sạ thì khâu ngâm ủ hạt giống là khâu tiên quyết. Cần tuân thủ ngâm ủ theo yêu cầu của từng giống lúa theo hướng dẫn của nhà sản suất. Đối với các tỉnh thuộc vùng Đông bằng song Cửu Long tiến hành ngâm ủ đến khi nứt nanh có thể đem gieo sạ bằng máy. Các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng tiến hành ngâm ủ khi rễ mầm bằng ½ chiều dài hạt lúa thì tiến hành áp dụng máy sạ khóm. Mật độ hạt gieo khóm có thể điều chỉnh theo thông số kỹ thuật của từng loại máy.

- Chăm sóc lúa sạ theo khóm: Trong thời gian sạ lúa cần duy trì độ ẩm đồng ruộng giống như lúa sạ thông thường. Sau sạ từ 3-5 ngày tiến hành đưa nước từ từ vào ruộng rồi mới phun thuốc cỏ. Sau phun thuốc cỏ từ 3-5 ngày bón phân kích đẻ nhánh sớm, đẻ tậm trung để đảm bảo lượng chồi hữu hiệu. Thời gian sau bón phân tiến hành chắm dặm đảm bảo mật độ khóm/ m­­2, lượng hạt giống trên m2 cần đạt 200-250 hạt giống.

- Kỹ thuật lúa sạ theo khóm nên ứng dụng trên cơ sở áp dụng các biện pháp 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, SRI như khâu làm đất, vệ sinh đồng ruộng, cày bừa san đất, cách quản lý nước theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa; sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý, hiệu quả và an toàn, chỉ sử dụng thuốc hóa học khi thật cần thiết; …

3. Một số lưu ý khi áp dụng sạ lúa theo khóm

- Kỹ thuật sạ lúa theo khóm là tiến bộ kỹ thuật mới nhưng để đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế cao theo mục tiêu cần hướng đến thì cần tuân thủ và phát triển trên nên ứng dụng của các phương pháp đã áp dụng. Nếu không thì có thể không đạt được kết quả, thậm chí có thể làm giảm hiệu quả kinh tế so với các hình thức canh tác thông thường.

- Lúa sạ khóm là kỹ thuật mới kết hợp được tính ưu việt của lúa cấy và lúa sạ. Nhưng để đảm bảo về năng suất thì kỹ thuật chăm sóc lúa sạ khóm cần tuân thủ kỹ thuật ở khâu có tính quyết định về năm suất là khâu bón phân.

- Chăm sóc lúa sạ khóm cần áp dụng giải pháp kỹ thuật thúc đẩy ruộng lúa đẻ chồi sớm, đẻ chồi tập trung, để đạt được số bông tối đa gần với số bông lý tưởng. Cần tiến hành bón phân sớm hơn so với các phương pháp sạ thông thường cùng thời điểm từ 3 – 5 ngày. Thời điểm bón phân cho lúa sạ khóm lần một là sau sạ từ 07-08 ngày, bón thúc lần 2 sau sạ từ 17-18 ngày (đối với giống lúa dưới 95 ngày). Mức đầu tư phân bón cho lúa sạ khóm như lúa thông thường canh tác cùng thời điểm.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n