Chuyển đến nội dung chính

Chính sách quyền riêng tư,

Thực trạng sử dụng phân bón, thuốc BVTV và giải pháp cho vùng rau

 Thực trạng sử dụng phân bón, thuốc BVTV và giải pháp cho vùng rau


1.1 Thực trạng sử dụng phân bón

          Kết quả điều tra tại vùng rau chuyên canh cho thấy, nông dân sử dụng rất nhiều chủng loại và số lượng phân bón trong sản xuất rau. Trong đó, chủ yếu là phân vô cơ.

          Theo số liệu điều tra của cục trồng trọt năm 2010, có 62,5% nông dân sử dụng phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ và 37,5% chỉ sử dụng hoàn toàn phân vô cơ. Lượng phân vô cơ sử dụng thường cao hơn so với khuyến cáo, đặc biệt là tỷ lệ phân đạm sử dụng rất cao để có mẫu mã rau đẹp (tỷ lệ N:P:K tương ứng khoảng 2,5: 1,5: 1). Ngoài ra một lượng phân khoáng cũng được sử dụng rất nhiều, cao hơn từ 30 – 60% so với mức khuyến cáo.

          Việc người dân sử dụng bừa bãi các loại phân bón vô cơ không theo khuyến cáo của nhà sản xuất là nguyên nhân chính gây sản phẩm rau không an toàn ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Gây lãng phí và ảnh hưởng đáng kể đến môi trường đất, nguồn nước.

          Thời gian gần đây, phân hữu cơ được sử dụng khá phổ biến ở một số vùng chuyên canh rau là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, sử dụng cá loại phân hữu cơ, đặc biệt là các loại phân ủ chưa hoai và rác thải chưa được chế biến, có thể gây ô nhiễm môi trường. Nếu trong phân có mầm bệnh cũng là một nguyên nhân gây mất an toàn cho rau.

1.2 Thực trạng sử dụng thuốc bỏ vệ thực vật (BVTV)

             Thuốc bảo vệ thực vật có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng hộ sản xuất thường lạm dụng thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả và không an toàn, làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, môi trường sống bị ô nhiễm.

          Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở nước ta đến năm 2013 đã lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi các nước trong khu vực chỉ có khoảng 400 – 600 loại hoạt chất; Ví dụ như Trung Quốc: 630 loại, Thái Lan, Malaysia: 400-600 loại.

          Hầu hết thuốc BVTV tại Việt Nam đều phải nhập khẩu. Nếu trước năm 1985 khối lượng hóa chất BVTV dùng hang năm khoảng 6.500 – 9.000 tấn thì trong 05 gần đây, Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 – 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần. Các loại thuốc sử dụng có độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu so với các nước trong cùng khu vực.

          Dư lượng thuốc BVTV bám lại trên vỏ bao bì bình quân chiếm 1,85% tỷ trọng bao bì. Trong khi đó các hộ sản xuất chưa có ý thức xử lý. Với khoảng 65% các hộ dân sản xuất vứt bỏ bao bì thuốc ngay tại đồng ruộng. Bên cạnh đó tình trạng sử dụng thuốc chưa đúng hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất… Đây là nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước…

          Đối với các cơ sở buôn bán thuốc BVTV, có khoảng 13,8% các đại lý kinh doanh thuốc BVTV không đủ điều kiện kinh doanh như không có chứng chỉ hành nghề, không có giấy phép kinh doanh, bán thuốc ngoài danh mục, thuốc hết hạn…

          Hiện nay các hộ sản xuất sử dụng đa phần là thuốc có nguồn gốc hóa học, tỷ lệ sử dụng thuốc sinh học thấp. Các mô hình tiến bộ khoa học, hiệu quả  chưa được nhân rộng nhiều.. Vì vậy việc mất an toàn khi sử dụng thuốc BVTV vẫn diễn ra kể cả khi tăng cường tập huấn trong sản xuất rau an toàn.

          Thực trạng lượng thuốc BVTV sử dụng rất lớn, ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn dư gây ra đang trở nên ngày mọt nghiêm trọng hơn.

1.3 Vấn đề quản lý chất thải rắn và chất thải hữu cơ, xác bã thực vật trong vùng chuyên canh rau

          Trong quá trình sản xuất rau, một lượng lớn thuốc BVTV và phân bón đã được sử dụng và tương ứng một lượng bao bì, phân bón được phải ra ngoài môi trường. Các vật dụng nilong kèm theo như màng phủ dũng được thải ra môi trường hàng năm.

          Đây là chất thải rắn, thời gian phân hủy lâu, gây ngộ độc cho cây trồng, môi trường đất bị ô nhiễm. Việc đốt bỏ lại gây ảnh hưởng đến mô trường không khí. Vì vậy, nếu không quản lý tốt, lượng chất thải rắn này cộng lượng dư hóa chất tồn dư sẽ ảnh hưởng đáng kể đến môi trường. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất một lượng lớn tàn dư thực vật không được xử lý, làm nơi trú ẩn các mầm bệnh dịch, là nguôn lây truyền sâu, bệnh cho vùng sản xuất. Mặc khác, nguồn rác thải hữu cơ phân hủy ngay trên đồng rộng sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

II. Giải pháp cho sản xuất rau an toàn ở các vùng chuyên canh rau

- Đối với thuốc BVTV: Nên áp dụng theo nguyên tắc 4 đúng, chọn loại thuốc ít độc hại và được phép sử dụng trên rau, thuốc có thời gian phân hủy nhanh. Tuyệt đối tuân thủ thời gian cách ly của thuốc theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Ưu tiên sử dụng các thuốc có nguồn gốc sinh học, thảo mộc…

- Đối với phân bón: Hạn chế sử dụng phân vô cơ, nên sử dụng phân vi sinh, bón cân đối N,P,K. Không bón phân gần thời điểm thu hoạch. Tăng cường sử dụng phân chuồng, phân rác đã được sử lý hoai mục.

- Sử dụng nguồn nước sạch trong sản xuất.

* Đối với người tiêu dùng phải “thông thái” để lựa chọn các sản phẩm rau màu:

- Rau đậu mua về nếu ngưởi thấy mùi lạ không đặc trưng của rau thì không sử dụng.

- Rau phải được rửa thật kỹ, ngâm nước xử lý và rửa vòi nước chảy.

          Tuy nhiên, có rất nhiều loại thuốc khi phun xịt đã ngấm vào mô cây do vậy trên đây chỉ là giải pháp tình thế. Về lâu dài để ngăn chặn tình trạng này không gì khác hơn là triển khai thực hiện chương trình trồng rau an toàn theo hướng VietGap, quản lý dịch hại theo IPM.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n