Chuyển đến nội dung chính

Chính sách quyền riêng tư,

Ruồi đục lá

 Ruồi đục lá


Tên khoa học: Liriomyza sativae Blanchard

Ruồi đục lá (Liriomyza Sativaza Blanchard) là loài đa thực, phổ ký chủ rộng, gây hại nhiều loài cây trồng. Ruồi đục lá đục ăn mô lá làm giảm khả năng quang hợp, làm cho cây cằn vàng, cằn cỗi, lá rụng sớm đẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Ngoài ra vết thương của lá giòi đục sẽ tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn sâm nhập phát sinh và phát triển gây hại làm rụng lá, chết cây. Sự gây hại của chúng rất nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả kinh tế trong trồng nên ta phải tìm biện pháp thích hợp để phòng chống chúng vì việc nghiên cứu về các đặc điểm của loài ruồi đục lá rất cần thiết.

1. Tên khoa học và vị trí phân loại ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

- Tên khoa học (Liriomyza Sativaza Blanchard)

- Tên tiến việt: Ruồi đục lá

- Họ Agromyzidae

- Bộ Diptera

2. Phân bố của loài ruồi đục lá (Liriomyza Sativaza Blanchard)

- Là loài phân bố rộng, hại cây trồng ở Mỹ, Trung Quốc, Đông Nam Á, và nhiều nước khác.

3. Phạm vi ký chủ của ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

- Phổ ký chủ rộng. Tại Trung Quốc đã tìm được 69 loài cây trồng thấy họ thực vật là ký chủ của loài này. Ở Việt Nam cũng đã phát hiện chục loại cây trồng thuộc họ rau thập tự, họ đậu, họ cà, họ bầu bí, họ loài sâu này gây hại. Đặc biệt, thiệt hại đáng kể cho khoai tây, cà chua, cô ve, đậu đũa, dưa lê, dưa chuột, mướp, bí ngô,....

4. Triệu chứng và mức độ gây hại của ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

- Giòi đục biểu bì ăn nhu mô để lại 2 lớp biểu bì tạo thành các đường đục ngoằn nghoèo. Giữa đường đục có vết phân do giòi thải ra màu xanh hoặc màu nâu đen. Lá bị hại thường khô héo, cây còi cọc, chậm phát triển.

- Lá già và bánh tẻ bị hại nhiều hơn lá non.

5. Đặc điểm hình thái ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanchard

- Trứng: hình bầu dục, khi mới đẻ có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu trắng đục. Trứng nằm gọn trong vết châm của ruồi trên lá. Những vết châm không có trứng thì mép không gọn và hình dạng có thể tròn, hoặc có góc cạnh. Những vết châm có trứng thì luôn có hình bầu dục và mép ngọn. Kích thước trung bình 0,22x0,13mm.

- Ấu trùng: Có ba độ tuổi. Móc miệng hình chữ Y rất linh hoạt. Từ màu trắng trong, tuổi 2 màu vàng nhạt, tuổi 3 màu vàng rơm. Kích thước trung bình các độ tuổi lần lượt là: 0,7; 1,3; và 2,3.

- Nhộng: Nhộng hình bầu dục, có 10 đốt. Kích thước trung bình 1,8x0,8mm.

- Ruồi trưởng thành: có kích thước nhỏ, ruồi cái trưởng thành có thân hình và cánh dài hơn ruồi đực. Đầu được bao phủ bởi một lớp lông màu đen bóng. Râu đầu dạng lông cứng, đốt cuối thon nhỏ dần. Mắt kép to màu nâu đỏ, ba mắt đơn nằm ở các khu trán – chân – môi. Miệng kiểu liếm hút có hàm dưới to, bàn chân có 5 đốt, bụng 6 đốt giữa các đốt vệt màu vàng. Bụng con đực thường nhỏ hơn con cái có máng đẻ trứng dài và nhọn. Bộ phận sinh dục của con đực tù, ngắn và nhỏ.

6. Đặc điểm sinh vật học của ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

7. Tập tính sống và quy luật phát sinh gây hại của ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

- Nhộng thường hóa trưởng thành vào buổi sáng, nhiều nhất 6 – 8 giờ sáng. Sau khi vũ hóa thì màu sắc ổn định.

- Ruồi ăn thêm và thường sau 1 ngày mới giao phối. Thời điểm phối nhiều nhất là 6 - 8 h và 11- 18 giờ trong ngày. Thời gian giao phối kéo dài nhất 40 – 120 phút.

- Ruồi cùng máng đẻ trứng chấm lên lá thành những lỗ to. Ruồi để trứng trên lá bánh tẻ ruồi có thể đẻ 250 quả trứng trong vòng 8 – 10 ngày.

- Vòng đời ở nhiệt độ từ 25 – 30 độ là từ 13 – 19 ngày.

- Gây hại cho các cây trồng quanh năm, từ khi cây con đến lúc thu hoạch, tỷ lệ lá bị hại tăng dần và đạt 90 – 100% vào giai đoạn cuối. Tháng 12, 1, 2, 6 và 7 tỷ lệ hại thấp hơn các tháng khác (do nhiệt độ thấp vào mùa đông và quá cao vào mùa hè so với nhu cầu sinh thái loài này).

- Kẻ thù tự nhiên quan trọng của loài này là một số loài ong ký sinh thuộc các họ Eulophidae, Braconidae, Cynipidae, bộ Hymenoptera. Trong số này loài Quadratichus liriomyzae Hanson có lúc ký sinh được 30 – 40% giòi trên đồng ruộng.

8. Biện pháp phòng trừ ruồi đục lá (Liriomyza sativae Blanchard)

- Q Ruồi đục lá (Liriomyza Sativaza Blanchard) là loài đa thực, phổ ký chủ rộng, gây hại nhiều loài cây trồng. Ruồi đục lá đục ăn mô lá làm giảm khả năng quang hợp, làm cho cây cằn vàng, cằn cỗi, lá rụng sớm đẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Ngoài ra vết thương của lá giòi đục sẽ tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn sâm nhập phát sinh và phát triển gây hại làm rụng lá, chết cây. Sự gây hại của chúng rất nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả kinh tế trong trồng nên ta phải tìm biện pháp thích hợp để phòng chống chúng vì việc nghiên cứu về các đặc điểm của loài ruồi đục lá rất cần thiết.

- Áp dụng quy trình IPM trên cây trồng (trồng đúng thời vụ, luân canh với cây lúa nước, phân bón cân đối, giữ đủ ẩm).

- Bảo vệ và sử dụng ong ký sinh sâu non và nhộng ruồi đục lá.

- Xử lý cây con trước khi trồng.

- Bẫy bắt bằng bả protein thủy phân, bẫy  màu vàng.

- Trường hợp bị nặng có thể phun thuốc trừ sâu politrin P440ec, vertimec 1,8ec.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n