Chuyển đến nội dung chính

Chính sách quyền riêng tư,

Kỹ thuật chăm sóc cây lúa từ giai đoạn làm đòng đến giai đoạn trổ bông

 Kỹ thuật chăm sóc cây lúa từ giai đoạn làm đòng đến giai đoạn trổ bông

Cây lúa là cây lương thực quan trọng ở nước ta. Để cây lúa đạt năng suất cao chất lượng tốt, bà con cần chú chăm sóc cây lúa ở trong từng giai đoạn của cây đặc biệt là giai đoạn cây lúa làm đòng và trổ bông. Vậy cây lúa cần chăm sóc như thế nào vào giai đoạn trổ bông? Cây lúa đang trong giai đoạn trổ cần bón phân gì cho cây? Cây lúa giai đoạn trổ bông có những loại sâu bệnh hại nào trên cây lúa? Xác định thời gian bón phân cho cây lúa đón đòng? Nên bón phân cho cây lúa vào giai đoạn nào là tốt nhất? Nên bón phân gì cho cây lúa làm đòng đạt năng suất cao?

Ở giai đoạn cây lúa trổ bông bà con đang loạy hoay tìm cách chăm sóc cây lúa. Bởi giai đoạn này cây lúa quyết định đến năng suất thành đạt cho bà con. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bà con cách chăm sóc cây lúa giai đoạn trổ bông giúp cây lúa đạt năng suất.

1. Chăm sóc cây lúa giai đoạn làm đòng

1.1. Bón phân cho cây lúa giai đoạn đón đòng

- Khi cây lúa đã có đòng lộ ra khỏi trồi chính, trên đồng ruộng đã lên đòng 90% bà con mới bón phân cho cây thì đòng không kịp hấp thụ dinh dưỡng dẫn tới bông nhỏ, ngắn, tỷ lệ hạt lép cao.  Trường hợp, bón phân quá sớm cho cây lúa sẽ làm cây không hấp thụ được các chất dinh dưỡng, vừa gây lãng phí, vừa kéo dài thời gian sinh trửơng của cây, làm cho cây lúa dễ bị sâu bệnh gây hại.

- Để việc bón phân đón đòng mang lại hiệu quả cao nhất khi phát hiện 50% diện tích lúa có đòng dài từ 1-20mm, bà con cần bón bổ sung Kali và Đạm cho lúa. Trong giai đoạn này, lượng Kali nên bón cho cây lúa chiếm 70% còn lượng đạm chỉ bón 30% theo quy trình chăm sóc cây lúa.

- Kali trong giai đoạn cần lượng bón cao, vì kali giúp cây lúa tăng cường quá trình quang hợp, tổng hợp các chất từ thân về nuôi đòng. Còn đạm giúp tăng lượng hoa và nhiều bông. Không nên bón nhiều đạm sẽ làm cho bộ lá phát triển mạnh làm tăng nguy cơ bị sâu bệnh gây hại.

- Lượng bón phân cho 1 sào Bắc Bộ như sau:

+ Giống lúa thuần: bón 3,5kg Kali + 0,5-1kg đạm Ure

+ Giống lúa lai: bón 4kg kali + 0,5-1kg đạm Ure.

- Sau khi bón thúc đòng xong bà con cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng nếu cây lúa vẫn thấy thiếu dinh dưỡng nên bón bổ sung thêm cho cây. Với thời gian cách nhau 2 tuần và lượng bón 2-3kg kali + 0,5-1kg.

Chú ý: Chỉ nên bón phân cho cây lúa ở khu vực nào phát triển chậm, không nên bón đồng loạt cho cây sẽ gây lãng phí.

- Nên bón theo nguyên tắc chung nếu ruộng xanh thì giảm đạm tăng kali, nếu ruộng vàng thì cần cung cấp thêm đạm.

1.2. Cung cấp nước cho cây lúa

- Ngoài cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa thì giai đoạn làm đòng cần cung cấp nước cho cây là điều rất cần thiết.

- Ở giai đoạn cây trổ đòng trên ruộng lúa phải đảm bảo đủ lượng nước cung cấp cho cây lúa, mực nước trong ruộng phải đạt từ 5-7cm.

- Nước là thành phần cấu tạo nên chất nguyên sinh, các quá trình trao đổi chất đều cần nước tham ra. Vì vậy, nươc nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến chiều hướng và cường độ trao đổi chất. Giai đoạn làm đòng hoạt động trao đổi tổng hợp trong cây lúa diễn ra rất mạnh mẻ, vì vậy nếu không đủ nước trong giai đoạn này nguy cơ mất mùa sẽ rất cao.

- Tuy nhiên, mực nước trong ruộng không được cao quá 7cm sẽ có nguy cơ sâu bệnh hại tấn công cây lúa.

1.3. Phòng trừ sâu bệnh hại trong giai đoạn làm đòng

- Ở giai đoạn làm đòng thì cây lúa thường gặp một số sâu bệnh hại như: sâu đục thân, bọ rầy, bệnh đạo ôn, khô vằn và đặc biệt trong điều kiện thời tiết độ ẩm cao, sương mù nhiều, cường độ ánh sáng ít thì bệnh đạo ôn phát triển mạnh. Vì vậy bà con cần chú ý đặc biệt đến các loại sâu bệnh này.

- Bà con cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sớm sâu bệnh hại tấn công cây lúa, sau đó liên hệ với cán bộ bảo vệ thực vật hoặc cán bộ khuyến nông ở địa phương để có biện pháp phun trừ hiệu quả.

2. Chăm sóc cây lúa giai đoạn trổ bông

- Giai đoạn cây lúa trổ bông đến chính là thời kỳ quyết định đến năng suất của vụ lúa. Chăm sóc ở giai đoạn này sẽ nâng cao quá trình hạt chắc và trọng lượng hạt. Với suy nghĩ này bà con nông dân trước đây đã sử dụng biện pháp an toàn là bón thêm phân cho cây lúa vào giai đoạn sau khi thụ phấn đến lúc hạt lúa chính xác để đảm bảo năng suất cho cả vụ. Tuy nhiên hiện nay biện pháp bón phân này đã không còn được áp dụng, bởi kỹ thuật chăm sóc cây lúa được nâng cao đang dần thay đổi, vừa tiết kiệm chi phí, vừa thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của thời tiết.

- Ở giai đoạn trổ bông không nên bổ sung thêm phân bón cho cây. Chỉ nên bón phân ở thời kỳ đón đòng từ 45-48 ngày là cần dừng bón phân cho cây lúa. Vì bởi giai đoạn này cây đã đủ cung cấp dinh dưỡng từ làm đòng đến khi cây trổ bông. Khi cây đang làm đòng không bón phân và không sử dụng thuốc gì tác động đến cây lúa.

- Khi cây lúa bị sâu bệnh hại tấn công thì mới nên phun thuốc cho cây, tránh tình trạng lãng phí thuốc và ảnh hưởng đến cây trồng liên quan.

- Tuy nhiên, ở giai đoạn trổ bà con cần chú ý đến các loài sâu bệnh hại tấn công như sâu đục thân, sâu cuốn lá, các loại rầy, rệp gây hại, bệnh đạo ôn, khô vằn. Tùy thuộc vào từng mùa vụ mà mức độ bệnh bị nặng hay nhẹ trên cây.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n