Chuyển đến nội dung chính

Câu chuyện về vải thiều

  Câu chuyện về vải thiều bắt đầu từ lịch sử phát triển của ngành trồng cây này và những câu chuyện thú vị liên quan đến nó. Dưới đây là một tóm tắt về câu chuyện và lịch sử của vải thiều: Xuất xứ và lịch sử: Vải thiều là loại cây ăn quả có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng từ hàng ngàn năm trước đây. Theo truyền thuyết, vải thiều đã được tìm thấy và trồng lần đầu tiên tại vùng Thiều Châu, Trung Quốc. Từ đó, nó đã lan rộng sang các khu vực khác trên thế giới, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác. Quan trọng với khu vực Vải Thiều Bắc Giang: Tỉnh Bắc Giang ở Việt Nam đã trở thành nơi nổi tiếng với trồng vải thiều. Vải thiều Bắc Giang đã được công nhận là một trong những thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam và có xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Câu chuyện về sự quan trọng của vải thiều trong văn hóa địa phương: Vải thiều không chỉ là một loại cây trồng phổ biến, mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa và kinh tế đặc trưng của một số khu vực. Ví dụ, ở Bắ

Cây đu đủ

 Cây đu đủ


Tên tiếng anh/Tên khoa học: Carica papaya L.

Tên khoa học: Carica papaya L.

Giới: Plantae, Angiospermae, Eudicots, Rosids

Bộ: Brassicales

Họ: Caricaceae

Chi: carica

Loài: C.papaya

1. Nguồn gốc cây đu đủ

- Cây đu đủ có nguồn gốc từ vùng đất thấp miền nam Mexico qua miền đông Trung Mỹ và Bắc Nam Mỹ. Nó có lẽ đã được người Tây Ban Nha đưa tới Philippines vào khoảng năm 1550. Từ đây nó được đưa vào khu vực nhiệt đới châu Á, châu Phi. Ngày nay, đu đủ được trồng ở phần lớn các nước nhiệt đới như Brasil, Ấn Độ, Nam Phi, Sri Lanka, Philippines, Việt Nam.

2. Tình hình trồng cây đu đủ ở Việt Nam

- Cây đu đủ được trồng rộng rãi ở nhiều vùng trên thế giới như: Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ. Ở nước ta cây đu đủ được trồng khắp cả nước, đặc biệt trồng nhiều ở trung du và bán trung địa và các tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng .

- Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta đu đủ chưa được đánh giá là tiềm năng phát triển về kinh tế nên cây trồng này chưa được chú trọng để trồng rộng rãi.

3. Đặc điểm thực vật học cây đu đủ

3.1. Rễ cây đu đủ

- Rễ cây đu đủ là loại rễ chùm, có các nhánh rễ đâm ngang tương đương với độ rộng của tán lá, rễ cây đu đủ ăn nông tập chung ở tầng đất từ 0-30cm.

- Cây đu đủ có bộ rễ nhỏ, giòn, mềm không chịu được ngập úng hoặc khô hạn khi gặp thời tiết bất lợi. Trong đất rễ hoạt động mạnh nên cần tạo lớp đất mặt tơi xốp, nhiều oxy cho bộ rễ phát triển. Rễ đu đủ rất mẫn cảm với đất chặt, bí, thiếu oxy hoặc đất bị ngập úng.

3.2. Đặc điểm thân cây đu đủ

- Thân cây đu đủ là dạng thân mềm, bán mộc, cây có màu xám xanh hoặc nâu xám, thân không phân nhánh khi đang trong giai đoạn sinh trưởng phát triển. Khi già cây phân nhánh tạo thành cây con. Cây đu đủ có thân rỗng, có các mô yếu, thân hóa gỗ kém. Trong điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt cây có chiều cao trung bình từ 3-7m, mang một chùm lá trên phía ngọn.

- Thân đu đủ có cấu tạo đặc biệt, phần vỏ sau lớp biểu bì có cấu trúc mạng lưới dày đặc, bao gồm các bó sợi gỗ có tác dụng chống đổ. Sau lớp biểu bì vỏ là các tế bào nhu mô xốp, giòn làm nhiệm vụ dự trữ dinh dưỡng cho cây. Khi cây già cỗi, các tế bào này bị thoái hóa làm thân rỗng. Trên thân có nhiều chồi bên, có thể phát triển thành chồi, xong phần lớn ở trạng thái ngủ. Cùng trồng trong một điều kiện như nhau, thân cây cái sinh trưởng chậm, cây đực nhanh hơn và cây lưỡng tính thì ở dạng trung gian.

3.3. Đặc điểm lá cây đu đủ

- Lá đu đủ mọc cách, so le, không có lá kèm. Cuống dài 60 – 70 cm, rỗng. Gân lá hình chân vịt. Thời gian từ mọc đến lúc lá thành thục khoảng 20 ngày, mùa đông thì dài hơn khoảng 30 ngày. Trong các tháng có nhiệt độ cao, dinh dưỡng nước đầy đủ, đu đủ có thể ra 9 – 11 lá. Về mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 tốc độ ra lá chậm đi nhiều chỉ đạt 1 – 2 lá/tháng.

- Khi cây được 22-27 lá thật cây bắt đầu ra 11 hoa, số lá trên cây nhiều hay ít có liên quan chặt chẽ đến năng suất của cây. Một cây trung bình đạt 13 – 17 lá xanh hoạt động thì tỷ lệ hoa đậu quả và quả phát triển bình thường. Nếu đạt được 25 – 30 lá hoạt động thì năng suất sẽ cao và ổn định.

- Trong điều kiện nhiệt đới ở nước ta, nếu có đủ nước thì quanh năm có thể mọc lá. Trong một năm có thể mọc được 60 lá. Tuổi thọ của lá khoảng trên dưới 4 tháng. Cũng như rễ, lá rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu bất thuận như sương muối, nhiệt độ thấp, úng, hạn, biểu hạn bằng các phản ứng như ra lá chậm, héo rũ, rụng sớm. Người ta tính rằng trên một cây đu đủ sai quả, một lá đu đủ phải làm nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho hai quả trở lên. Bởi vậy để đảm bảo được năng suất cao cần giữ cho bộ lá xanh tốt, không rụng sớm.

3.4. Đặc điểm hoa đu đủ

- Hoa đu đủ thường mọc ở nách lá, và thường có 3 loại hoa khác nhau: hoa lưỡng tính, hoa đực và hoa cái. Tuy nhiên đối với mỗi loại hoa có các đặc điểm khác nhau, tùy thuộc vào loại hoa khác nhau. Mức độ hữu tính của hoa trên cây rất đa dạng và dễ bị ảnh hưởng do thời tiết. Do đặc điểm mang hoa, thông thường có ba loại cây đu đủ.

- Đặc điểm của 3 loại hoa chính:

+ Hoa đực: Mọc thành chùm có cuống dài đến 1m. Hoa đực thường bé, 5 cánh đài, 5 cánh vành dính lại thành một hình ống. Số nhị đực thường là 10. Cuống nhị đính ngay ở cổ ống hoa. Nhị cái thoái hóa chỉ còn là một bầu nhỏ, nhụy nhỏ như sợi chỉ. Ở đáy ống hoa có mật, côn trùng lấy mật sẽ mang phấn đi thụ phấn cho các hoa cái và hoa lưỡng tính.

+ Hoa cái: Hoa cái rất to, ít nhất cũng gấp 4,5 lần hoa đực. Hoa có 5 cánh rời nhau, không có chỉ nhị, bầu hoa rất phát triển. Nuốm chia thành 5 mảnh chứng tỏ bầu do 5 lá noãn hợp thành. Mỗi mảnh rìa xoăn như hình mào gà, làm tăng diện tích của nuốm, do đó có khả năng tiếp nhận được phấn dễ hơn. Những hoa này cần thụ phấn mới cho năng suất cao, xong cũng có thể
đơn tính sinh (không qua thụ tinh) phát triển thành quả nhưng quả bé, kém
ngọt. Quả thường tròn, khoảng trống lòng quả to, thịt quả mỏng.

+ Hoa lưỡng tính điển hình: Hoa lưỡng tính có kích thước trung gian, to hơn hoa đực nhưng nhỏ hơn hoa cái. Hoa lưỡng tính có 5 cánh nhưng cánh không rời hẳn nhau như ở hoa cái mà dính với nhau ở phần dưới của cánh hoa thành một ống. Ống ngắn hơn ở hoa đực và chỉ đính với nhau trên khoảng 1/3 chiều dài của cánh hoa, còn ở hoa đực thì đính với nhau trên 2/3 chiều dài của
cánh hoa.

Hoa lưỡng tính có cả nhị đực và bầu trong có noãn. Bầu dạng dài và chỉ nhị gắn trên cánh hoa. Hoa có 10 nhị đực. Bầu có thể có 5 lá noãn hoặc chỉ có 2 đến 3 lá noãn.

3.5. Quả và hạt cây đu đủ

- Dạng quả đu đủ thường tùy vào loại hoa đã thụ phấn:

+ Hình trứng hay hình cầu: Do hoa cái phát triển, mỏng cơm, bọng ruột, quả lớn và tròn.

+ Hình thon dài: Do hoa lưỡng tính tạo thành, dày cơm, nhiều hạt và ngon ngọt. Loại quả này thường dài 20 – 40 cm, đường kính 5 – 15 cm, trọng lượng 0,5 – 4 kg. Trong sản xuất hiện nay, do đu đủ trồng từ hạt, chưa tạo giống thuần nên độ đồng đều của quả trên vườn chưa cao.

- Hạt: Quả đu đủ mang trung bình 300 – 500 hạt. Quả đu đủ đủ độ già thường có khoảng 60 – 70% hạt sẽ mọc thành cây. Hạt già có màu xám hoặc đen và thường chìm trong nước. Bên ngoài hạt có lớp vỏ lụa mỏng, cản thấm nước nên cần chà bóc vỏ trước khi gieo. Hạt có chứa dầu. Trọng lượng 1.000 hạt nặng khoảng 2kg.

4. Đặc điểm sinh học cây đu đủ

Quả đu đủ chứa nhiều dinh dưỡng, trong 100 g thịt quả chín chứa nhiều nước (86,6%), bột (12,1%), protem (0,6%) và có khá nhiều chất khoảng như: Kali (204 mg), Canxi (34 mg), Phốt-pho (llmg).

Đặc biệt, quả đu đủ cung cấp lượng vitamin phong phú: vitamin A (450 mg), Canxi (74mg), Vitamin Bị (0,03), Vitamm pp (0,5 mg), Vitamin B2 (0,04 mg). Ngoài ra, quả đu đủ tươi còn được dùng như một loại rau nấu ăn hàng ngày.

Một số nơi còn trồng đu đủ để lấy nhựa cây. Papain có trong đu đủ là một loại enzym có khả năng phân giải protein nhanh, ứng dụng trong chế biến thực phẩm, dược phẩm.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n