Chuyển đến nội dung chính

Câu chuyện về vải thiều

  Câu chuyện về vải thiều bắt đầu từ lịch sử phát triển của ngành trồng cây này và những câu chuyện thú vị liên quan đến nó. Dưới đây là một tóm tắt về câu chuyện và lịch sử của vải thiều: Xuất xứ và lịch sử: Vải thiều là loại cây ăn quả có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng từ hàng ngàn năm trước đây. Theo truyền thuyết, vải thiều đã được tìm thấy và trồng lần đầu tiên tại vùng Thiều Châu, Trung Quốc. Từ đó, nó đã lan rộng sang các khu vực khác trên thế giới, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác. Quan trọng với khu vực Vải Thiều Bắc Giang: Tỉnh Bắc Giang ở Việt Nam đã trở thành nơi nổi tiếng với trồng vải thiều. Vải thiều Bắc Giang đã được công nhận là một trong những thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam và có xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Câu chuyện về sự quan trọng của vải thiều trong văn hóa địa phương: Vải thiều không chỉ là một loại cây trồng phổ biến, mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa và kinh tế đặc trưng của một số khu vực. Ví dụ, ở Bắ

Tìm hiểu nhu cầu dinh dưỡng của cây bông vải

 Tìm hiểu nhu cầu dinh dưỡng của cây bông vải


1. Nhu cầu dinh dưỡng của cây bông vải

Với năng suất 1 tấn/ha bông hạt, cây bông lấy đi từ đất: 150kg N, 24kg P2O5, 95kg K2O. Cây bông rất cần nhiều phân bón cho sinh trưởng và phát triển.

Cây bông thuộc nhóm các loài cây trồng mẫn cảm với độ chua của đất. Bông chỉ sinh trưởng và phát triển tốt trong phạm vi độ pH của đất là 6-8. Độ pH dưới 5,2 không trồng được bông, pH = 5,2-5,8 bông cho năng suất thấp.

Phân hữu cơ bón cho bông cần được ủ thật hoai. Lượng phân hữu cơ bón cho bông là 5-10 tấn/ha.

Phân đạm dùng để bón cho bông nên dùng sunphat amon (30-40% lượng N) và ure. Lượng phân đạm bón cho 1 ha là 150kg SA và 150kg ure.

Trong các loại phân lân, bón cho bông thích hợp là tecmophotphat (phân lân nung chảy). Vì đây là phân kiểm. Sử dụng tecmophotphat cần được bổ sung S. Lượng tecmophotphat bón cho 1 ha bông là 250-300kg.

Phân kali thường bón cho bông là 30kg K2O/ha, tương đương là 50kg/ha KCl. Bón phân K2SO4 cũng tốt. Cl và S đều tốt cho cây bông.

Sinh trưởng và năng suất cây bông có liên quan chặt chẽ với hàm lượng S dễ tiêu trong đất. Nên bón 20-40kg S/ha/vụ.

Bón 30kg MgO/ha dưới dạng MgSO4 rất tốt cho bông. Ở một số nơi, như Nha Hố (Phan Rang) Mg có hiệu lực cao hơn cả N, P. Có thể sử dụng MgCl2 thay MgSO4.

2. Hướng dẫn bón phân cho cây bông vải

Theo hướng dẫn của Công ty Bông Trung ương lượng phân hóa học bón cho 1 ha bông như sau: N: 100-120kg; P2O5: 40-45kg; K2O: 30kg

Tương ứng với 150kg sunphat amon (SA) + 15kg ure + 300kg tecmophotphat + 60kg clorua kali.

Số phân này được chia thành 3 lần để bón:

- Bón lót: 150kg SA + toàn bộ phân lân + 30kg clorua kali. Bón vào hốc trước khi gieo hạt lấp đất dày 2cm. Gieo hạt trong các hốc khác cách chỗ bón phân 6-7cm, gieo xong lấp đất lại.

- Bón thúc lần 1: sau khi gieo 25-30 ngày. Lượng bón là: 80kg ure + 20kg clorua kali. Bón cách gốc cây 7-8cm, sâu 10cm, bón xong lấp đất phủ kín.

- Bón thúc lần 2: sau khi gieo 45-50 ngày. Lượng phân bón là 70kg ure + 10kg clorua kali. Bón cách gốc cây 10-15cm, sâu 1cm, bón xong lấp đất lại, vun gốc cho cây.

Phân chuồng nếu có, được bón lót toàn bộ j5-10 tấn/ha vào lần bừa đất cuối cùng hoặc bón vào rãnh gieo.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây

  Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây Tên khoa học:  Globodera rostochiensis Wollenweber, 1923,G.pallida Stone, 1973           Là một trong những loài tuyến trùng hại khoai tây. Nếu cây bị nhiễm làm cho cây phát triển còi cọc, lá héo có thể làm chết cây. Nhiễm ở mức nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại năng suất củ lên đến 80%. 1. Nguồn gốc           Bệnh tuyến trùng bào nang hại khoai tây là do tuyến trung G.pallida gây nên. Loại tuyến trùng này là loài phi bản địa có nguồn gốc từ Châu Âu. Lần đầu tiên phát hiện ở miền đông Idaho trong tháng 4 năm 2006. Cho đến nay, nó được phát hiện thấy và bị hạn chế tại 17 cánh đồng bị nhiễm khuẩn đại diện cho tổng số 1.916 mẫu Anh ở Bingham và Bonneville của Idaho. Mặc dù G.pallida bị giới hạn phân bố địa lý, sự hiện diện của chúng trong đất trồng tại mỹ đã có tác động sâu rộng làm đóng cửa, hạn chế thị trường xuất khẩu, giảm giá trị đất nông nghiệp và các khó khăn kinh tế khác. 2. Triệu chứng           Triệu chứng thể hiện lá biến vàng, l

Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô

  Bệnh lùn sọc đen hại lúa, ngô Tên khoa học:  SRBSDV (Southern Rice Black-Streaked Dwarf Virus)            Để hạn chế tối đa ảnh hưởng,giảm mức thiệt hại do bệnh gây ra, người dân cần thiết áp dụng các biện pháp đồng bộ phòng trừ kịp thời ngay từ đầu vụ mới có thể đảm bảo năng suất lúa, ngô. 1 Triệu chứng gây hại 1.1 Gây hại trên cây lúa - Khi bắt đầu nhiễm bệnh rễ cây vẫn phát triển bình thường, về sau rễ kém phát triển dần, ngắn và sau đó chết. - Triệu chứng điển hình để nhận biết được xác định ít nhất 2 tuần qua môi giới truyền bệnh là rầy mang virus chích hút vào cây lúa khỏe. - Cây bị bệnh thường thấp lun, lá xanh đập hơn bình thường. Lá lúa bị xoăn ở đầu lá hoặc toàn bộ lá. Gân lá ở mặt sau bị sưng lên. Khi cây còn nhỏ, gân chính trên bẹ lá cũng bị phồng sưng. - Nếu cây bị nhiễm ở giai đoạn làm đòng và khi lúa có lóng, cây nhiễm bệnh thường nảy chồi trên đối thân và mọc nhiều rễ bất định. Trên bẹ và lóng thân mọc nhiều u sáp và bọc đen. Ở giai đoạn lúa trỗ, triệu c

Cây dược liệu Dây bông xanh

  Cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb Dược liệu Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập. Lá sắc uống dùng trị đau dạ dày. Dây và lá dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt.   Hình ảnh cây Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora Dây bông xanh, Bông báo - Thunbergia grandiflora (Roxb. ex Rottl.) Roxb., thuộc họ Dây bông xanh - Thunbergiaceae. Bộ phận dùng:  Vỏ rễ, dây và lá -  Cortex Radicis, Caulis et Folium Thunbergiae . Nơi sống và thu hái:  Cây của vùng Đông Dương, mọc hoang ở đồng bằng và vùng núi nhiều nơi khắp nước ta. Cũng được trồng làm cây cảnh. Thu hái rễ vào mùa hè thu, tách lấy vỏ và bỏ lõi gỗ. Thu hái dây và lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô trong râm để dùng dần. Tính vị, tác dụng:  Dây bông xanh có vị ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu sưng, tiêu viêm, làm lành vết thương. Công dụng, chỉ định và phối hợp:  Vỏ rễ dùng chữa đòn n