Cây gai xanh
Tên tiếng
anh/Tên khoa học: Rami
1. Giới thiệu một số cây
gai lấy sợi và cây gai xanh (rami)
Ở miền núi nước ta có nhiều cây được khai
thác vỏ để lấy sợi dệt vải. Những cây này mọc hoang dã hoặc được trồng trong
gia đình với quy mô nhỏ. Để phân biệt cây gai xanh với những cây trồng lấy sợi
từ vỏ khác, chúng tôi giới thiệu sơ lược một số cây dưới đây.
1.1. Cây gai dầu
Cây thuộc họ Cannabaceae. Họ này chủ yếu dùng để lấy sợi dệt vải của đồng bào miền núi. Cây này có thùy lá hình chân vịt hoặc lá kép chân vịt và luôn luôn có lá kèm. Các khoang sỏi luôn luôn có mặt; một số thành viên của họ này có mủ.
Gai dầu là cây đơn tính khác gốc (cây đực
và cây cái riêng biệt). Hoa đối xứng xuyên tâm và không sặc sỡ, do chúng là các
loại cây thụ phấn nhờ gió. Thích nghi với kiểu thụ phấn này là đài hoa ngắn và
không có tràng hoa. Hoa mọc thành cụm dạng xim hoa.
Ở các loài đơn tính khác gốc thì cụm hoa
đực dài và trông giống như chùy hoa, trong khi cụm hoa cái ngắn và chứa ít hoa
hơn. Nhụy hoa gồm 2 lá noãn hợp sinh, bầu nhụy thường là thượng và một ngăn;
không có số lượng nhị hoa cố định.
Quả có thể là quả bế dẹt hình trứng có mũi
nhọn.
Một số cây trong họ gai dầu cho hương liệu
như cây hoa bia. Một số cây gai dầu có chất gây nghiện (cây cần sa).
1.2. Cây gai chống (Tribulus
terrestris L.)
Cây này còn có tên gọi là Bạch
tật lê, gai ma vương, gai sầu... Cũng gọi là gai nhưng cây này thuộc
chi Tribulus khác hẳn cây gai làm bánh và
cây gai lấy sợi mà chúng tôi mô tả dưới đây.
Ở Việt Nam chi Tribulus có 2 loài là Tribulus teretris và Tribulus cistoides.
Các loài cây gai chống chỉ phân bố từ Quảng
Bình trở vào.
1.3. Cây lanh (Iinum
uistatissimum L.)
Còn có tên gọi khác là lanh Mèo, lanh Mán.
Là loại thân thảo, sống lâu năm, cao 60 cm
- 1 m, thân thảo nhẵn màu xanh hoặc xám nhạt. Lá hình lưỡi mác hoặc hình bầu
dục, gân gốc nổi rõ. Lá đơn gần đối xứng hoặc hình xoắn ốc (xem hình 2).
Cây lanh là cây ôn đới nên chỉ phát triển ở vùng núi cao như ở Sapa, Mường Khương, Sính Hồ, Tủa Chùa, Phó Bảng...
Cây cho sợi dệt rất tốt. Lá có chất gây
nghiện.
1.4. Cây dướng
(Broussontrertia papyrifera (L.); tên đồng nghĩa khác là Morus
papirifera L.)
Cây thân gỗ, mọc ven suối, có kích cỡ rất
khác nhau. Lá mọc cách hình trái tim như lá gai hoặc chia thùy. Mặt dưới lá
cũng có màu trắng bạc hoặc màu xanh nhạt. Dân tộc miền núi trước lấy sợi dướng
để dệt thổ cẩm. Người Ấn Độ lấy sợi dướng để dệt sarong. Người Indonesia lấy
sợi dướng để dệt khăn trải giường, may túi...
Cây dướng chỉ là cây khai thác tận dụng với
ý nghĩa tự cung tự cấp của đồng bào miền núi ở Việt Nam cũng như các nước lân
cận. Cây dướng chỉ có giá trị trong việc sử dụng làm nguyên liệu giấy cao cấp
hoặc làm bao bì bằng giấy. Do vậy cây dướng không có ý nghĩa lớn trong ngành
dệt may xuất khẩu.
Cây có 2 loại lá: Loại như lá gai và lá có xẻ thùy.
Chúng tôi nêu một số cây trên tránh sự lầm
lẫn với cây gai để chế tạo xơ bông phục vụ ngành dệt may mà chúng tôi trình bày
dưới đây.
1.5. Cây gai xanh Rami
(Boehmeria nivea tenacissima (L.) Gaud.)
Cây gai xanh là cây bản địa của Việt Nam,
đã được nhân dân ta sử dụng làm đồ may mặc rất lâu đời. Trong cuộc khai quật
những ngôi mộ cổ người ta đã tìm thấy các trang phục bằng gai chôn cất hơn trăm
năm vẫn còn có độ dai. Cây gai còn có những tên gọi khác nhau. Ví dụ người Kinh
gọi cây gai là gai làm bánh, gai tuyết; người Tày gọi là trữ ma, bẩu pán; người
Thái gọi là cọ pán; người Dao gọi là chiều đủ; người Trung Quốc gọi là chư
ma...
Trước đây ở 2 địa phương khác nhau người ta
xác định tên khoa học chi Boehmeria có 2 loài là Boehmeria
nivea và Boehmeria tenacissima. Sau này người ta xác định
lại tenacissima là loài phụ của loài B. nivea. Chi Boehmeria ở
Việt Nam hiện nay người ta đã tìm thấy 10 loài. Do vậy cây gai xanh chúng tôi
giới thiệu trong cuốn sách nhỏ này là Boehmeria nivea
tenacissima (L.) Gaud. Để đỡ nhầm lẫn chúng tôi gọi cây này là cây RAMI.
Cây gai xanh thuộc họ Gai (Urticaceae).
Cây thân thảo nhiều năm, đứng thẳng, thường
mọc thành bụi, cao 1 - 2 m đến 2,85 m hóa gỗ ở gốc, thân rễ kéo dài và có rễ
dạng củ. Thân thường không phân cành, đường kính 8 - 16 mm, lúc non màu xanh và
có lông mềm, sau mầu nâu nhạt và hóa gỗ. Lá đơn mọc cách, với 3 gân gốc rõ; là
kèm hình đường - ngọn giáo, gốc dính lại, dài tới 1,5 cm; cuống lá dài 6 - 12
cm, có lông; phiến lá hình trứng rộng, hình tam giác đến gần hình tròn, kích
thước 7 - 20 x 4 - 18 cm, gốc hình nêm đến gần hình tim, đầu thường có mũi
nhọn, mép có răng cưa đến răng nhọn, mặt trên màu lục sẫm và nhẵn; mặt dưới
nhẵn, có lông ép sát màu lục, hay trắng.
Hoa mọc từ thân hay ở ngọn cây là tùy thuộc vào các dòng khác nhau, cụm hoa hình chùy hay hình chùm ở nách dài 3 - 8 cm, mỗi nhánh mang các đám hoa chụm lại hay tách xa nhau; chủ yếu là hoa đực với các cành hoa đực ở gốc; các cụm hoa đực thường nhỏ với 3 - 10 cụm hoa; cụm hoa cái lớn hơn, thường mang 10 - 30 hoa. Hoa đực có cuống ngắn, bao hoa 3 - 5 thùy; nhị bằng số thùy. Hoa cái không cuống, bao hoa hình ống, 2 - 4 thùy màu xanh nhạt đến màu hồng; bầu chứa 1 noãn, vòi mảnh và có lông một phía; núm hình sợi. Quả bế gần hình cầu, đến hình trứng, đường kính khoảng 1 mm, bao bọc bởi bao hoa tồn tại, có lông, màu vàng nâu. Hạt gần hình cầu đến hình trứng, đường kính nhỏ hơn 1 mm, màu nâu đen.
Do hoa đực và hoa cái không cùng trong một
đài hoa nên gió dễ làm cho gai dễ bị lai tạp với giống kém năng suất nhưng có
“sinh lực” mạnh ở địa phương.
Để đảm bảo tính ổn định về mặt di truyền
giống tối ưu thì nhân vô tính là biện pháp hữu hiệu nhất.
2. Đặc điểm sinh học và sự
phát triển của cây gai xanh (Rami)
Hiện gai đã có mặt ở nhiều nước, từ vùng
xích đạo (Indonesia, Philippin) đến vĩ tuyến 380 Bắc (Nhật Bản và Hàn
Quốc), ở vùng có nhiệt độ từ 20 - 280C. Cây không chịu được sương muối vì thân
ngầm sẽ bị chết. Cây ưa ẩm, đòi hỏi lượng mưa 100 - 140 mm; khi non hơi chịu
bóng; sinh trưởng và phát triển nhanh trong mùa mưa ẩm, đến mùa đông có hiện
tượng rụng lá, hơi tàn lụi. Cây ra hoa hàng năm; điều kiện ngày ngắn kích thích
cây ra hoa nhanh. Chưa thấy gai tái sinh bằng hạt, nhưng khả năng tái sinh vô
tính bằng chồi rất khỏe. Cũng tái sinh bằng các thân và cành cắt ra đem giâm
xuống đất. Những vườn ươm giống gai có thể dựa vào đặc tính này để tạo vườn ươm
giâm hom.
Để tạo sợi tốt, cây đòi hỏi loại đất sét pha
cát, thoát nước tốt, có độ pH 5,5 - 6,5. Cây rất mẫn cảm với việc thiếu nước,
nhưng cũng không chịu được ngập nước lâu.
Sau khi trồng 5 - 20 ngày, thân rễ bắt đầu
sinh trưởng. Sau khi trồng 3 - 10 tháng là có thể thu hoạch. Nhưng những tháng
đầu cây cho chất lượng rất kém.
Mùa hoa quả tháng 11 - tháng 1 năm sau.
Cây gai có hệ rễ phát triển, được cấu tạo
bởi rễ củ cải (còn gọi là rễ dinh dưỡng), rễ nhánh (còn gọi là rễ bên) và rễ
sợi. Cây gai không thuộc hệ gốc thẳng, cũng không thuộc hệ rễ chùm, là
loại rễ biến thái. Rễ củ cải có dưỡng chất
phong phú, cung cấp dinh dưỡng cho sự sinh trưởng nẩy mầm của cây gai, cũng có
tác dụng bảo vệ ở chừng mực nhất định giúp gốc gai vượt qua mùa đông giá rét.
Cây gai sinh trưởng vô tính bằng cơ quan
dinh dưỡng của phần thân dưới đất và phần thân trên mặt đất. Từ cơ quan dinh
dưỡng mọc thêm rễ nhánh và rễ sợi. Đây là cơ sở để nhân giống cây gai bằng hom
thân.
Cây gai trồng theo hạt, ban đầu nhú vỡ vỏ
hạt, rễ mầm mọc cắm xuống đất, hình thành rễ chính, trên rễ chính mọc thêm rễ
nhánh, trên rễ nhánh lại mọc thêm rễ sợi. Trong vòng nửa năm đầu có thể nhìn
thấy rõ rễ chính, sau này thân dưới đất mọc ra nhiều rễ bất kỳ, nhanh chóng
phát triển lớn thành rễ củ cải dần dần thay thế rễ chính mọc chậm.
·
Rễ cây gai xanh
Rễ cây gai thường mọc sâu xuống đất
sâu chừng 1 - 1,5 m, sâu nhất có thể lên tới 2,5 - 3m, đại đa số quần thể rễ
phân bố trong tầng đất canh tác khoảng trên dưới 50 cm. Những chủng loại có rễ
khác nhau sẽ cắm vào lòng đất với độ nông sâu khác nhau, loại cắm rễ sâu sẽ cắm
vào đất sâu hơn, loại cắm rễ nông cắm vào đất nông hơn, loại rễ trung bình sẽ
giới hạn ở giữa hai loại. Các loại rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 đan xen vào nhau
tạo điều kiện giữ đất, chống xói mòn cho đất dốc trên núi.
Thường loại rễ sâu thường chia gốc khá dầy,
loại rễ nông khá thưa. Mỗi khóm gai chia gốc phụ thuộc vào chủng loại, năm tuổi
của gai, mật độ, sự khác biệt giữa các mùa khác nhau và điều kiện trồng trọt,
thường là 10 - 20 gốc, trồng thưa có thể đạt mười mấy gốc. Trong đó có loại gốc
trồng sinh trưởng nhỏ bé, chín không kịp thời, không thể thu hoạch được gai gọi
là gốc không có hiệu quả, mọi người thường gọi là "gai chân".
·
Thân
cây gai xanh
Thân trên mặt đất của cây gai có hình
trụ vuông, phần gốc khá thô, phần ngọn khá mảnh, đứng thẳng. Thân cây lúc
trưởng thành cao khoảng 2 m, cao nhất là hơn 3 m. Đường kính giữa thân thường
khoảng 1 cm. Thời kỳ sinh trưởng thân có màu xanh nhạt hoặc xanh sẫm, bên ngoài
có lớp lông, khi trưởng thành bởi vỏ bên ngoài đã hoàn toàn phát triển thành
gỗ, nên dần dần biến thành nâu vàng, mầu nâu xanh, mầu nâu hoặc mầu xanh đen.
Cây gai lúc trưởng thành thường có 40 - 50 đốt, giữa các đốt thường dài khoảng
2 - 6 cm, đốt giữa dài nhất. Thân cây gai thường không phân nhánh, nhưng cây
gai mới trồng hay cây gai trồng quá thưa, những điểm sinh trưởng phần ngọn bị
phá hoại hoặc cây gai già thu hoạch muộn có lúc cũng phân nhánh.
Kết cấu của cây gai khi trưởng thành, từ
ngoài vào trong, có thể chia thành vỏ ngoài, tầng vỏ và lớp vỏ dai mới mọc, lớp
vỏ dai mọc tiếp theo, tầng hình thành, phần gỗ và cốt tủy. Sợi có giá trị kinh
tế sinh trưởng ở trong phần vỏ dai mới mọc. Sợi vỏ thứ cấp mọc lần 2 không phát
triển bằng lần đầu. Khi cắt gai thường cắt bỏ đi.
Thân gai ở trên mặt đất mọc rất nhanh, đa
số vùng trồng gai ở lưu vực sông Đà đều thu hoạch 3 lần 1 năm.
Phần thân dưới của cây gai là dạng biến
thái của thân, hình dáng giống rễ, còn gọi là thân ngầm. Ở những vùng sản xuất
gai đều dùng thân ngầm để trồng, nên còn gọi là hom thân. Thân dưới đất lúc còn
non có màu trắng ngà, sau này lớp vỏ biến thành gỗ dần có màu nâu hoặc mầu nâu
sẫm. Thân dưới đất có đốt, trên đốt có lá thoái hóa dưới dạng lớp vẩy bọc mầm,
trong nách lá của những lá thoái hóa đó có chồi nách, đoạn đỉnh rễ ở thân dưới
đất còn có chồi ngọn, chồi ngọn và chồi nách có thể sinh trưởng ra bốn phía
hình thành thân dưới rất to rộng hoặc vươn ra mặt đất phát triển thành thân trên
mặt đất.
Thân dưới đất thường sinh trưởng ở tầng đất
5 đến 15 cm. Do hình dáng và vị trí trên gốc gai không giống nhau, nên có thể
chia thành 3 loại gốc cấp I, gốc cấp II và gốc cấp III. Gốc cấp I sinh trưởng
dựa vào bề mặt đất, giống như đầu rồng, mọc mầm nhanh, nảy mầm nhiều. Rễ cấp II
dài mảnh, từ mầm đơn mọc khắp tứ phía quanh gốc gai, giống thân trúc, nảy mầm
nhanh, nhưng khá mảnh và yếu. Gốc cấp III to và thô, nằm ngang trong lòng đất
giống cấp II, nảy mầm chậm nhưng mọc mầm to khỏe. Rễ cấp III của loại gốc sâu
to thô, rễ cấp II khá ít, mọc gốc khá chậm; rễ đòn gánh của loại gốc nông và rễ
cấp II mảnh, nhiều, mọc gốc khá nhanh.
·
Lá cây gai
Lá cây gai là lá đơn, mọc lẫn nhau,
phiến lá to, viền bên có răng cưa. Hình dáng lá khác nhau tùy từng loại, thường
có hình elip, hoặc gần tròn, hình bầu dục và hình tim. Lá dài 7 - 17 cm, rộng 6
- 14 cm, chóp lá nhọn, phần gốc hình nêm, không có răng cưa. Lá non của đợt gai
đầu có màu xanh sẫm, màu đỏ, màu đỏ tím, màu vàng, cùng với sự sinh trưởng
phiến lá dần trở thành màu vàng xanh, màu xanh, xanh sẫm, mặt sau của lá có lớp
lông màu trắng, hoặc xanh nhạt (tùy theo chủng giống), phiến lá là mạch lá dạng
lưới.
Lúc lá non của cây gai mở rộng, phiến lá
dần biến thành màu xanh sẫm, đây là giai đoạn tác dụng quang hợp của phiến lá
mạnh nhất, thân vươn dài nhanh, kết quả của tác dụng quang hợp là nhiều nitơ.
Khi màu phiến lá thoái hóa, lượng nitơ sau quá trình quang hợp giảm bớt, nhưng
sợi và tích lũy tinh bột tăng lên.
·
Hoa cây gai
Hoa cây gai là chùm hoa có hình bông, hoa đực và cái cùng một gốc. Hoa cái mọc ở trên 10 đốt phía dưới chỗ sinh trưởng của thân; hoa đực mọc ở đốt phía dưới hoa cái và nhiều hơn hoa cái, chỗ giao thoa giữa hoa đực và hoa cái thường mọc lẫn.
+ Hoa cái: Chùm hoa cái mọc trên cành hoa, mọc thành chùm
như quả cầu nhỏ, mỗi chùm hoa có khoảng hơn 1 trăm bông hoa, tạo thành quả cầu
nhỏ. Đài hoa hình ống tròn, phần chóp tách ra làm bốn, xung quanh có lớp lông
tơ, một bầu nhụy, một đài hoa, dài mảnh màu trắng, lúc nở hoa vươn ra khỏi đài,
cánh đài hoa bao lấy bên ngoài quả không rơi. Trước khi hoa cái nở có màu đỏ
vàng, xanh vàng, trắng vàng, màu đỏ, đây là một trong những tiêu chí quan trọng
để nhận biết chủng loại gai khác nhau.
+ Hoa đực: Nụ hoa hình quả cầu dẹt, màu vàng nhạt, cuống hoa ngắn
không rõ rệt, nụ hoa sống trên cành hoa, mỗi cành hoa đều do một trục chính
chia thành 3 - 7 nhánh, mỗi nhánh có 5 - 9 nụ đực. Nụ hoa có 4 cánh đài hoa,
phần gốc kết hợp, mọc lông tơ. Cánh đài hoa có màu xanh nhạt hoặc màu trắng
vàng, phần giữa có một bầu nhụy thoái hóa, do một bầu cấu tạo thành. Nhụy đực
có 4 bông, dài khoảng 7 cm, phấn hoa hình quả cầu. Phấn hoa mượn lực đàn hồi
của tơ hoa khi hoa đực nở bay trong không khí, nhờ gió để truyền phấn hoa.
Quả gai hình bẹt hoặc hình cọc sợi ngắn,
rất nhỏ, một bầu một hạt. Quả chín có màu nâu sẫm, trên ngọn còn sót lại cuống
hoa. Vỏ quả có màng, bên ngoài có lớp lông.
Hạt gai rất nhỏ, có màu nâu sẫm hoặc màu
nâu, hình tròn bẹt, có sữa mầm, nghìn hạt nặng khoảng 0,05 - 0,11 g, mỗi gam
hạt khoảng 1,5 - 3,4 vạn hạt.
3. Quá trình trưởng thành
và sinh trưởng cảu cây gai xanh (Rami)
Cùng với sự thay đổi thời tiết 4 mùa, cây
gai có quá trình sinh trưởng và phát triển từ nảy mầm, mọc mầm, chia gốc, hình
thành sợi, đơm nụ, khai hoa, kết quả một cách có quy luật.
3.1. Sự sinh trưởng của thân
3.1.1. Sinh trưởng của thân
dưới đất
Thân dưới của cây gai không có thời gian
nghỉ ngơi, mùa đông vẫn ươm mầm, thường trong vòng 2 - 3 tháng sẽ mọc mầm chồi
lên khỏi mặt đất, đến sau đợt đông sương giáng, phần trên mặt đất sẽ khô lại và
chết, nhưng thân dưới mặt đất vẫn tiếp tục sinh sống, tạm thời sinh trưởng chậm
chạp. Nhưng hễ gặp thời tiết thích hợp, mầm non lại mọc lên khỏi mặt đất thành
chồi non. Khi nhiệt độ ở độ sâu dưới 5 cm so với bề mặt đất chừng hơn 60C, thân
và rễ dưới mặt đất vẫn không ngừng mọc rễ, ươm mầm một cách chậm chạp, nếu
nhiệt độ xuống thấp dưới -50C phần dưới mặt đất sinh trưởng chịu sự hạn chế,
nếu nhiệt độ thấp kéo dài quá lâu toàn bộ gốc cây gai sẽ bị lạnh chết. Bởi thế
trước khi áp dụng biện pháp thâm canh, cần bón phân hữu cơ và bồi đất để gai
vượt qua mùa đông, nâng cao khả năng chống rét của gốc gai, đây là biện pháp
chính để bảo vệ gốc gai vượt qua mùa đông một cách an toàn.
Thân dưới đất của cây gai có tác dụng thay
đổi mạnh mẽ. Trong cả quá trình sinh trưởng của nó, hiện tượng giao hoán sinh
trưởng, thoái hóa và chết đi của thân rễ
mới và cũ thể hiện vô cùng rõ rệt. Bởi thế, đào sâu đất trồng gai vào mùa đông
không những có thể nâng cao sự màu mỡ cho đất mà trong quá trình làm tơi xốp
đất, có thể loại bỏ thân rễ dưới đất bị mục ruỗng, trùng bệnh có hại, từ đó
thúc đẩy tác dụng thay đổi cái mới của thân dưới lòng đất.
3.1.2. Sự sinh trưởng của thân
trên mặt đất
Cây tầm gai sống ở khu vực sông Đà, trồng năm
thứ nhất thường thu hoạch 1 đến 2 lần, từ năm thứ 2 mỗi năm thu hoạch 3 - 4 - 6
lần. Số lần phụ thuộc vào chân đất, chủng giống và nhiệt độ nơi sản xuất. Chủng
loại, môi trường ngoại cảnh và điều kiện của nơi nuôi trồng khác nhau, nên thời
gian sinh trưởng ngắn dài không giống nhau. Nhìn từ sự sinh trưởng của cây gai
mỗi mùa có thể thấy sự sinh trưởng của thân trên mặt đất lại chia làm giai đoạn
mầm, giai đoạn sinh sôi nảy nở và giai đoạn trưởng thành của cây gai.
(1) Giai đoạn mầm: Giai đoạn mầm của
cây gai lần đầu do nhiệt độ khá thấp, sinh trưởng chậm, khoảng chừng 1 tháng.
Đợt gai thứ 2, thứ 3 do nhiệt độ khá cao, trong điều kiện lượng nước thích hợp,
thường trong vòng 5 - 7 ngày có thể cơ bản mọc mầm đều, giai đoạn mầm ở hai mùa
bình quân trong vòng 10 ngày, hơn nữa hai mùa trước và sau tiếp nối nhau rất
sát, khi cây gai của mùa trước trưởng thành, mầm gai của mùa sau đã bắt đầu
chồi lên mặt đất. Bởi thế, để thu hoạch gai đạt được "4 nhanh" (nhanh
thu hoạch, nhanh chặt thân, nhanh vun xới đất, nhanh bón phân), là vấn đề mấu
chốt cho việc tranh thủ thời kỳ sinh trưởng có lợi của cây gai mùa sau và được
bội thu ba mùa.
(2) Thời kỳ sinh trưởng mạnh: Thời kỳ
sinh trưởng mạnh của đợt gai đầu khoảng 40 ngày, tốc độ sinh trưởng bình quân
mỗi ngày có thể đạt từ 2 - 4 cm, theo sách nông nghiệp trồng gai thường nói:
"Qua tiết lập hạ, một đêm mọc phiến lá, tiểu mãn
mọc đủ, mang chủng lột vỏ" phản ánh
thời kỳ sinh trưởng mạnh của đợt gai đầu vào mùa thu hoạch. Đợt gai 2, 3 chừng
30 ngày, trong trường hợp điều kiện lượng nước đảm bảo, đợt gai thứ 2 bình quân
sinh trưởng có thể đạt khoảng 5 cm, đợt gai thứ 3 khoảng 4 - 5 cm. Ở giai đoạn
cây gai mùa thứ ba cần bón phân, cung cấp nước đầy đủ, điều đó rất quan trọng
với việc nâng cao sản lượng gai.
(3) Thời kỳ trưởng thành của sợi gai: Thời
kỳ này gốc gai về cơ bản đã không còn tiếp tục sinh trưởng, nhưng tầng sợi tiếp
tục dày thêm và trưởng thành. Từ 1/3 đến 2/3 thân đen là có thể thu hoạch.
Trong mùa gai thứ 3, cây gai đợt đầu chủ
yếu là bởi thời kỳ trước nhiệt độ thấp ảnh hưởng lớn, cả quá trình sinh trưởng
tương đối dài, giai đoạn trước sinh trưởng nhanh, nhưng thời kỳ sau thường bị
khô hạn, giai đoạn sinh trưởng sau của đợt gai thứ 3 nhiệt độ giảm xuống, gốc
gai chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh sôi, tỷ lệ sinh trưởng đợt gai thứ
2, 3 bình quân thể hiện đặc tính từ nhanh đến chậm. Ở một số nơi có độ ẩm và
nhiệt độ cao có thể thu hoạch thêm 1 - 2 vụ nữa.
3.2. Năng suất cây gai xanh
Năng suất thân gai tươi thường 40 - 60
tấn/ha, cho 1.000 - 1.600 kg sợi khô và 500 - 1.200 kg sợi đã loại chất keo. Ở
Philippin thu được 2.000 kg sợi khô/ha
trong năm đầu và 3.500 kg sợi khô trong các năm tiếp theo. Các diện tích gai ở
nhiều nước thường sau 7 - 20 năm mới phải phá đi để trồng lại. Gai trồng để làm
thức ăn gia súc, năng suất lá có thể đến 300 tấn tươi hay 42 tấn khô với 14 lần
cắt trong 1 năm. Năng suất phụ thuộc nhiều vào tính chất thổ nhưỡng, cách chăm
sóc và trồng giống. Chủng X8 có thể cho 1.500 kg ngay năm đầu và sau 3 năm nếu
chăm bón tốt và có nhiệt độ cao trên 280C, cung cấp đủ độ ẩm cho đất thì năng
suất có thể đạt hơn 5.000 kg/1 ha.
4. Sản phẩm khai thác từ
cây gai Rami
Người ta trồng cây gai Rami chủ yếu để chế
tạo thành bông sợi cao cấp để dệt vải phục vụ ngành may.
Vải từ cây gai thoáng mát, thấm mồ hôi, giữ
nếp lâu và đặc biệt có tính khử mốc rất cao.
(1). Sợi bông từ vỏ cây gai là loại bông
cao cấp để may những hàng may cao cấp đắt tiền. Sợi bông Rami pha với sợi hóa
học, sợi tơ tằm làm tăng giá trị hàng hóa của ngành may thời trang. Thiết nghĩ
đây cũng là một trong hướng đi cần chú ý của ngành dệt may Việt Nam.
Một sản phẩm cũng cần chú ý là tơ gai khi
chưa chế thành bông cũng có thể dệt thô bằng các khung dệt thổ cẩm đơn sơ tạo
ra các phụ kiện phục vụ ngành may xuất khẩu rất có giá trị.
(2). Lõi cây gai Rami là nguyên liệu tốt để
sản xuất nấm ăn, sản xuất bao bì giấy.
(3). Rễ cây Rami là một dược liệu cầm máu
rất quý, dùng làm thuốc kháng viêm, chữa viêm gan siêu vi B, tiểu đường, suy
nhược thần kinh, béo phì, thuốc chữa động thai, chảy máu, doạ sẩy thai, đái
đục, đái ra máu, sưng tấy.
(4). Lá cây gai là nguyên liệu trong lĩnh
vực chiết xuất chất màu từ thực vật, làm chất màu thực phẩm trong sản xuất
bánh, kẹo.
Tóm lại, cây gai xanh Rami là cây có ý nghĩa kinh tế cần được lưu ý phát triển.
Cây gai xanh cho sợi được trồng chủ yếu ở
Trung Quốc, Brazil, Lào và Philippines.
Mặc dù sợi gai được coi là một loại sợi
"sinh thái" đầy hứa hẹn để sử dụng trong ngành dệt, việc tách bóc và
làm sạch sợi hiện nay rất khó khăn và đòi hỏi nhiều lao động.
Chất xơ trong sợi gai (Ramie) được biết đến
đặc biệt với khả năng giữ hình dạng, giảm nhăn nheo, và tạo ra một bóng mượt
cho vải. Bông sợi gai không bền như các sợi khác nên thường được sử dụng như
một hỗn hợp với bông hoặc len.
Giống như vải lanh, vải gai có xu hướng
nhăn dễ dàng và cần được ủi mà làm tăng tiêu thụ năng lượng.
Nhận xét
Đăng nhận xét